Mộc Thành Đạt

MENU

Ngành gỗ, nội thất gỗ Việt Nam

13-05-2016
Ngày 24/1/2012 tại Bắc Ninh, Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam (Vifores) phối hợp với Tổ chức Forest trends và Hội làng nghề Gỗ Bắc Ninh tổ chức hội thảo “Làng nghề gỗ trong bối cảnh thị trường thay đổi”. Theo Vifores, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2012 đạt 4.641 tỷ USD tăng 25,3% so với năm 2011.

1. Tổng quan

Ngày 24/1/2012 tại Bắc Ninh, Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam (Vifores) phối hợp với Tổ chức Forest trends và Hội làng nghề Gỗ Bắc Ninh tổ chức hội thảo “Làng nghề gỗ trong bối cảnh thị trường thay đổi”. Theo Vifores, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2012 đạt 4.641 tỷ USD tăng 25,3% so với năm 2011.

Trong đó cơ cấu thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam năm 2012: thị trường Hoa kỳ dẫn đầu đạt 1,721 tỷ USD, chiếm 37% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành; sang  EU đạt 0,928 tỷ USD, chiếm 20%; sang Trung Quốc đạt 0,844 tỷ USD, chiếm 16%;  đến Nhật Bản đạt 0, 638 tỷ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn  đều tăng trưởng mạnh, như: Hoa Kỳ tăng 27%, Trung Quốc tăng 11%, Nhật Bản tăng 14,2% so với  năm 2011. Đặc biệt, vài năm gần đây thị trường Trung Quốc nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam với giá trị tăng nhanh một cách chóng mặt. Trong đó, đáng báo động là xuất khẩu gỗ nguyên liệu sang Trung Quốc đang tăng nhanh, sẽ là một nguy cơ càng gây thiếu nguyên liệu cho các nhà sản xuất ván nhân tạo của Việt Nam. Bình quân mỗi năm Việt Nam xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc với khối lượng quy ra gỗ tròn khoảng trên 6 triệu m3. Trong đó: xuất khẩu dăm gỗ sang Trung Quốc từ 160.000 m 3 năm 2004 đã tăng lên khoảng  2 triệu  m 3 năm 2012; gỗ bóc khoảng 300.000  m 3/năm; gỗ Palet khoảng 250.000 m 3/năm.

 

2. Khó khăn

Ngoài những khó  khăn chung như lãi suất vay ngân hàng cao, thuế cao, chi phí đầu vào như nguyên liệu và lương công nhân tăng cao, khối ngành nghề chế biến gỗ còn gặp nhiều thách thức riêng. Như: khó thu mua nguyên liệu rừng trồng ở các tỉnh phía Bắc vì thương nhân Trung Quốc ồ ạt sang Việt Nam vơ vét với giá cao. Thương nhân Trung Quốc còn cung cấp trang thiết bị xẻ gỗ, bóc gỗ, băm dăm với giá rẻ để người trồng rừng nước ta sản xuất gỗ xẻ, dăm mảnh và palet với khối lượng sản phẩm thô hàng năm lên tới 3- 4 triệu m3.. Năm 2011 – 2012, Nhà nước ban hành một số chính sách gây bất lợi cho DN gỗ Việt Nam như Thông tư số 01 (sau này có bổ sung công văn số 42; thông tư số 40) về kiểm dịch thực vật; và nâng mức thuế xuất đối với một số sản phẩm gỗ. Chương trình XTTM quốc gia của Nhà nước 3 năm gần đây rất hạn hẹp về kinh phí, nên cộng đồng các DN gỗ Việt Nam ít được hưởng lợi từ các chương trình này. Trong năm 2011 – 2012, đã có nhiều DN chế biến gỗ phải dừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng.

 Theo Vifores, trong thời kỳ nhiều nước trên thế giới lâm vào suy thoái kinh tế, nhu cầu tiêu dùng gỗ sụt giảm, thì việc phát triển thị trường nội địa vô cùng quan trọng đối với ngành chế biến gỗ. Trong thập kỷ gần đây, Việt Nam đã có bước tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và điều này cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng đồ gỗ của người dân.Thống kê sơ bộ Vifores, nhu cầu mua sắm đồ gỗ trong hộ gia đình ở Việt Nam bình quân khoảng 6 triệu đồng/hộ. Nhu cầu đồ gỗ cho các khách sạn, văn phòng cho thuê và các khu đô thị mới cũng có xu hướng tăng nhanh. Điều này lý giải sự phát triển các cơ sở sản xuất đồ gỗ cũng như các làng nghề chế biến gỗ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước về gỗ và các sản phẩm gỗ.

 Ông Lê Văn Cầm, Phó chủ tịch Hội Gỗ và lâm sản Bắc Ninh cho biết, Bắc Ninh có hơn 15 làng nghế chế biến gỗ, nhưng nổi trội hơn cả vẫn là các làng nghề: Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc, Tam Sơn. Sự phát triển của làng nghề gỗ đã góp phần tăng doanh thu cho ngành tiểu thủ công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người dân địa phương. Tuy nhiên từ đầu năm 2012 trở lại đây, nhiều hộ gia đình đã phải ngừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng do không bán được hàng. Hàng nghìn lao động đã phải nghỉ việc. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là sản phẩm của các làng nghề gỗ tại Bắc Ninh quá lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc, sản phẩm chưa bán được sang các thị trường Châu Âu, Mỹ, Nhật, Úc…

 TS Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trends cho biết, khảo sát của Forest Trends cho thấy, Hiện cả nước có 302 làng nghề chế biến gỗ, với gần 50% số làng nghề này tập trung tại vùng Đồng Bằng Sông Hồng. Tổng doanh thu từ các làng nghề gỗ đạt khoảng 1,5 tỷ USD/ năm. Hiện các làng nghề gỗ cung cấp tới trên 80% đồ gỗ nội thất và đồ gỗ xây dựng cho thị trường nội địa. Ước tính, lượng nguyên liệu cho tất cả các làng nghề gỗ trong cả nước khoảng trên 3500.000-400.000m3/năm. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng doanh thu của các làng nghề gỗ đang chững lại. Mặt khác, cho đến nay phần lớn sản phẩm của các làng nghề đều chưa có sự kiểm định về tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ đầu vào. Hiện tại hầu như chưa có sự phối hợp thống nhất giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với sự tồn tại và phát triển của các làng nghề chế biến gỗ. Hầu hết làng nghề gỗ đều có các tổ chức xã hội nghề nghiệp với chức năng chính là cầu nối thông tin giữa cơ sở sản xuất và các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên hầu hết các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở quy mô hộ gia đình đều không trực thuộc các tổ chức này vì hoạt động thực tế của các tổ chức này còn hết sức hạn chế, chưa thể hiện được vai trò trong việc hỗ trợ các cơ sở  sản xuất đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Quy mô sản xuất kinh doanh ở các làng nghề thường là quy mô nhỏ hộ gia đình, hầu như không có liên kết nào được hình thành giữa các hộ đã dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm. Điều này dẫn đến những hạn chế rất lớn trong các làng nghề hiện nay là cạnh tranh không lành mạnh, hạ giá để chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, bỏ qua các khâu, những hoạt động phải tuân thủ nhằm giảm giá thành, nâng cao lợi nhuận.

 Ông Nguyễn Hữu Dũng, Cục trưởng Cục Kiểm lâm (Bộ NN-PTNT) cho biết, hiện nay một số thị trường cơ bản của Việt Nam nhập khẩu đồ gỗ đã có những thay đổi. Việc đáp ứng đối với chính sách thương mại quốc tế như Luật LACEY của Mỹ; FLEGT của EU; đồng thời các vụ kiện bán phá giá chống trợ cấp và tự vệ đã và sẽ gây áp lực rất lớn đối với cộng đồng DN gỗ Việt Nam. Mới đây, các nước Úc, Nhật cũng đã ban hành các đạo luật quy định chỉ được nhập khẩu các sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp. Hiện cục Kiểm lâm đang được Bộ NN giao cho xây dựng hệ thống kiểm soát gỗ hợp pháp để đáp ứng yêu cầu của thế giới. Sắp tới chúng tôi sẽ tiếp tục đàm phán với Liên minh châu âu để dến tháng 9/2013 sẽ có ký kết hiệp định hoàn chỉnh - đây là cơ hội cho các đồ gỗ Việt Nam thâm nhập mạnh hơn nữa vào thị trường thế giới.

 

3. Lợi thế

Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ chế biến tăng hơn 19%, đạt 5,5 tỷ USD. Như vậy, dù vẫn gặp khó khăn chung do suy thoái kinh tế, nhưng ngành chế biến gỗ vẫn tiếp tục duy trì tốc độ phát triển ấn tượng với 2 con số.

Thời cơ

Do ảnh hưởng suy thoái thị trường châu Âu, giá thành tăng không cạnh tranh được, nhiều nhà máy của những nước chế biến đồ gỗ lừng lẫy thế giới như Ý, Đức, Mỹ đã thu hẹp sản xuất hoặc đóng cửa, trong khi mặt hàng đồ gỗ chế biến của Trung Quốc đã bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá cao, làm mất lợi thế cạnh tranh, đó là chưa nói đến nhân công lao động của ngành chế biến gỗ không còn là lợi thế của Trung Quốc. Đây là cơ hội để ngành gỗ chế biến Việt Nam mở rộng thị trường và thị phần. 

Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Giám đốc Điều hành Công ty Scansia Pacific, nguyên Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (Hawa), những nhà xưởng chế biến gỗ của các nước Âu, Mỹ đều có thiết bị tiên tiến, chủ những doanh nghiệp (DN) này sẵn sàng bán lại, đồng thời cử chuyên gia sang đào tạo, huấn luyện và vận hành thời gian đầu. 

Đây có thể nói là cơ hội cho DN Việt Nam tiếp cận thiết bị mới nhất của ngành chế biến gỗ các nước tiên tiến với giá vừa phải. Vấn đề là nhà nước nên có gói chính sách hỗ trợ cho việc mua sắm thiết bị này, bởi lẽ đa phần DN ngành chế biến gỗ đều thuộc dạng vừa và nhỏ.

Trong khi đó, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hawa cho rằng, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu sản phẩm gỗ, thứ 2 châu Á sau Trung Quốc và thứ nhất khu vực Đông Nam Á, nhưng với kim ngạch xuất khẩu 5,5 tỷ USD, ngành chế biến gỗ Việt Nam chỉ mới chiếm 1,5% thị phần xuất khẩu gỗ thế giới. So với 10 nước xuất khẩu đồ gỗ nhiều nhất, Việt Nam là nước có nhiều ưu thế về sản xuất, lao động, khu vực chế biến tập trung với bán kính khoảng 50km... 

Tiêu biểu như khu vực Đông Nam bộ và TPHCM. Tiềm năng và cơ hội của ngành còn rất nhiều. Nếu có chính sách phát triển phù hợp, ngành chế biến gỗ Việt Nam có thể nâng thị phần xuất khẩu hàng năm từ 1,5% hiện nay lên 5% trong khoảng chục năm tới, tương đương với 15 tỷ USD. Riêng năm 2014, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ có thể tăng 20%, đạt trên 6,5 tỷ USD.

Thị trường nội địa khởi sắc

Nhiều người cho là không tưởng về kim ngạch xuất khẩu gỗ trong tương lai với con số quá cao như vậy. Nhưng những người công tác lâu năm và tâm huyết trong nghề chế biến gỗ thì cho rằng, con số này không phải là mơ mộng và nếu như Nhà nước có cái nhìn toàn diện hơn về ngành này thì ngành chế biến gỗ hoàn toàn có đủ điều kiện trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. 

Nếu được sự hỗ trợ bằng chính sách của nhà nước, giúp ngành công nghiệp phụ trợ phát triển để cung cấp những thiết bị, nguyên vật liệu cho ngành xuất khẩu gỗ chế biến thì điều được xem là viển vông đó hoàn toàn là hiện thực. Hawa đã có đề án về tham vọng này để báo cáo với lãnh đạo TPHCM cùng với những kiến nghị và bước đi cụ thể.

Trong khi đó, theo khảo sát của ban tổ chức tại Hội chợ Đồ gỗ nội địa Vifa home 2013 (tháng 11-2013), dù còn khiêm tốn khi tổng mức giao dịch tại chỗ là 16 tỷ đồng, nhưng tăng đến 30,3% so với lần hội chợ cùng kỳ năm trước. 

Đây là hội chợ chuyên ngành đồ gỗ nội địa mới được tổ chức vài năm gần đây nhưng sự tăng trưởng như vậy cho thấy, thị trường đồ gỗ nội địa có nhiều chuyển biến mạnh những năm gần đây. Các DN thông qua Vifa home tiếp cận nhanh hơn tới người tiêu dùng và các công trình xây dựng. 

Theo khảo sát của một công ty độc lập nước ngoài, với quy mô 90 triệu người, thương mại đồ gỗ Việt Nam 4 năm gần đây khoảng 19,8 tỷ USD/năm. 

Trong đó, tiêu dùng đồ gỗ của người dân thành thị chiếm khoảng 30% cho hộ gia đình và 40% cho các công trình dự án mới; 30% thị phần còn lại là từ 70% dân cư ở nông thôn. Được biết, trước giai đoạn suy thoái kinh tế, thương mại đồ gỗ nội địa khoảng 3 tỷ USD/năm. Với sự hồi phục này, tiêu dùng nội địa năm nay nhiều khả năng đạt mức 2 tỷ USD trở lên.

Tuy nhiên, cũng theo Hawa, khó khăn của ngành chế biến gỗ vẫn còn nhiều, ngoài những vấn đề tự thân từng DN phải giải quyết như lao động kỹ thuật, công nghệ sản xuất, vận chuyển nội bộ, kiểm soát chi phí đầu vào… Trên bình diện quốc gia có một số thách thức phải đối mặt: Nâng cao tỷ lệ hiệu quả sử dụng gỗ và giảm chi phí vận chuyển bằng sản xuất trung gian (các loại ván nhân tạo, gỗ ghép…) tại các vùng trồng rừng tập trung; gỗ hợp pháp và trách nhiệm giải trình nguồn gốc; kiểm soát hàng tạm nhập và tái xuất để lấy xuất xứ sau khi Việt Nam ký TPP... 

Đây là những thách thức không chỉ của DN mà còn là thách thức về quản lý nhà nước khi TPP có hiệu lực và khi khu vực các nước Asean trở thành cộng đồng kinh tế chung năm 2015.

 

4. Dự báo

Năm 2013 là năm thắng lợi lớn của ngành gỗ, đặc biệt trong bối cảnh ngành nông nghiệp nói chung suy giảm. Kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt mức cao nhất từ trước tới nay, 5,7 tỷ USD. Nếu cộng cả các đồ lâm sản ngoài gỗ như đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ song, mây, tre… thì kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt gần 6 tỷ USD.

Năm 2013, thị trường Mỹ đã phục hồi đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1,7 tỷ USD sau nhiều năm suy giảm, tăng gần 16%. EU chưa tăng nhiều. Nhật Bản có khởi sắc sau sự kiện sóng thần và điện hạt nhân. Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đã bắt đầu tăng trở lại, tăng khoảng 200 triệu USD so với năm 2012.

Thành công nổi bật chính là sự phát triển của ngành gỗ tại thị trường Trung Quốc. 3 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ vào thị trường này rất mạnh. Ví dụ năm 2012 đạt khoảng 740 triệu USD, thì tới năm 2013 đã xấp xỉ 1 tỷ USD.

Sở dĩ đạt được kim ngạch xuất khẩu cao là do các doanh nghiệp trong Hiệp hội đã mở được thị trường mới như Nga, Ấn Độ, Trung Đông…

Nếu phân tích kỹ thì thấy, mặc dù kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng hệ số lợi nhuận và giá trị gia tăng chưa cao do chi phí đầu vào trong nước như xăng dầu, điện nước, nhân công tăng. Hơn nữa, chi phí mua nguyên liệu gỗ của nước ngoài năm 2013 cũng rất cao, trong khi các hợp đồng đều được ký kết từ quý IV/2012.

Hơn nữa, Trung Quốc là thị trường có tốc độ tăng trưởng lớn, nhưng chủ yếu họ nhập khẩu sản phẩm thô là chính, với công nghệ thấp và mua sản phẩm giá rẻ của người trồng rừng ở Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái… Đây là điều cần lưu ý vì nó tác động mạnh tới người trồng rừng và chế biến gỗ. Hơn nữa, nếu như chúng ta không có chính sách đặc biệt với thị trường Trung Quốc thì việc đảm bảo gỗ 100% hợp pháp với thị trường này rất phức tạp.

Hiện nay các nước xuất khẩu đồ gỗ chính vào EU gồm Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia. Trong đó riêng Trung Quốc mỗi năm có khoảng 8-12 tỷ USD sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường này. Nhưng những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu của thị trường Trung Quốc đã giảm dần do bị kiện bán phá giá. Chính vì vậy, Trung Quốc lại chuyển hàng của họ sang Việt Nam, lấy xuất xứ của Việt Nam đưa đi.

Do vậy, năm 2013, Việt Nam lại vươn lên đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu gỗ sang EU. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu chưa lớn, chỉ 800 triệu USD. Song, Việt Nam mới chỉ tiếp cận được 4 nước là Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, nên nếu chúng ta vươn được tới 27 nước trong khối thì dung lượng thị trường này còn rất lớn.

Năm 2014, dự kiến VPA sẽ được ký kết. Khi đó ngành gỗ Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều do được phía EU hỗ trợ nên giá bán cao hơn, thị trường ổn định hơn và được tiếp cận thẳng với người dân.

Nhưng bên cạnh đó, khó khăn ở đây là luật pháp của Việt Nam chưa hoàn chỉnh và phải thay đổi nhiều để phù hợp với các quy định mới. Hơn nữa nhận thức của các đối tác như người trồng rừng, thương lái, làng nghề… về VPA và FLEGT rất mơ hồ nên họ khó có thể tận dụng được cơ hội mà VPA/FLEGT mang lại.

Nếu TPP được ký kết trong năm nay, các doanh nghiệp phải chuẩn bị để thích nghi, trong đó có rất nhiều thị trường lớn mà chúng ta đang xuất khẩu như Mỹ, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Canada.

Có một điều chắc chắn là nếu chúng ta mua gỗ ngoài khối TPP (bao gồm 12 nước đang tham gia đàm phán) thì gỗ đó sau khi sản xuất, xuất khẩu sang các nước nội khối TPP sẽ phải chịu 2 rủi ro lớn, gồm thuế suất rất cao sự giám sát tính pháp lý của gỗ cũng rất khắt khe.

Hiện Việt Nam mua gỗ của khoảng gần 40 quốc gia trên thế giới và xuất khẩu cho các nước như Mỹ, EU, Nhật Bản, New Zealand, Canada… Nếu mua gỗ trong khối này thì thuế suất bằng 0%. Nhưng vấn đề ở chỗ liệu họ có đủ nguồn gỗ cung cấp cho ta? Những điểm đó các doanh nghiệp trong Hiệp hội đang tính toán.

Điều quan trọng hơn còn là sự cạnh tranh khốc liệt từ sản phẩm gỗ nhập khẩu của các thị trường này rất lớn, kỹ thuật và quản trị kinh doanh rất cao, khoảng cách trình độ của ta so với họ còn rất xa. Chính vì vậy, kỹ năng sản xuất, năng suất lao động cũng như mẫu mã, chất lượng sản phẩm của ta sẽ như thế nào để cạnh tranh với họ.

Nguồn: Hiệp hội đồ gỗ Việt Nam


Ngành gỗ, nội thất gỗ Việt Nam
Online: 4 | Thống kê tuần : 110 | Thống kê tháng : 829 | Tổng : 35513
tien go binh duong, gia cong go binh duong, gia cong cac chi tiet go tai binh duong, thiet ke cac mat hang go tai binh duong,